© 2014 MatCRT.Com. All Rights Reserved.

CRT Kiểm Soát Độ Cận Thị

Kính chỉnh hình giác mạc kiểm soát độ cận như thế nào?

Một cách tổng quát, chỉnh hình giác mạc đạt hiệu quả rất cao. Qua thí nghiệm lâm sàng khi so sánh với các phương pháp khác, chỉnh hình giác mạc đạt kết quả giảm độ tăng cận cao nhất. Kết quả thí nghiệm lâm sàng (có thể tham khảo ở Research menu dưới tiêu đề Orthokeratology (Ortho-K)) cho thấy giảm độ tăng cận 55% đến 100%. Thí nghiệm cho thấy chỉnh hình giạc mạc còn có chức năng ngăn ngừa tăng cận. Xin xem biểu đồ khảo cứu của Wilcox và Bartels dưới đây.

18

 

Đường biểu thị mầu xanh cho nhóm bệnh nhân không dùng  chỉnh hình giác mạc (tiến trình cận tăng vọt) và biểu thị mầu đỏ cho nhóm đang dùng kính chỉnh hình giác mạc với độ tăng cận được kiểm soát và ổn định.

Thiết kế kính chỉnh hình giác mạc ra sao?

Kính áp tròng chỉnh hình giác mạc là một thiết kế tạo khuôn đặc biệt, là loại áp tròng rắn, thấm khí (RGP), lớn khoảng tròng đen mắt. Dùng mỗi đêm và tháo ra mỗi buổi sáng.

 

Hiệu quả của kính chỉnh hình giác mạc là gì?

Kính chỉnh hình giác mạc giúp bệnh nhân cận thị có được thị lực hoàn hảo, nhìn sáng sủa rõ ràng trong sinh hoạt ban ngày mà không cần đeo bất cứ loại kính cận nào. Hiệu ứng chỉnh hình giác mạc là tạm thời, nếu ngưng dùng, độ cận sẽ trở về nguyên trạng. Đây là phương pháp an toàn để thay thế cho Lasix hay những giải phẫu khúc xạ khác thường không thích hợp với trẻ em. Chỉnh hình giác mạc là chọn lựa tuyệt vời cho cả người lớn lẫn trẻ em.

 

 

Đề Tài Nghiên Cứu

Giảm Cận Bằng Chỉnh Hình Giác Mạc (ROMIO). Chương trình khảo cứu lâm sàng trong hai năm 09/2012 của các bác sỹ:

  1. Pauline Cho và
  2. Sin-Wan Cheung + Các cộng sự viên

 

  1. Đại Học Nhãn Khoa, The Hong kong Polytechnic University, Kowloon, China.
  2. Soạn giả: Sin-Wan Cheung, Đại học nhãn khoa, The Hong Kong Polytechnic University, Hung Hom, Kowloon, Hong Kong, China. sopeggy@polyu.edu.hk.

Mục đích: Thí nghiệm lâm sàng giám định kết quả chỉnh hình giác mạc (ortho-K) kiểm soát cận thị.

Phương Pháp: Dùng 102 cá thể, tuổi từ 6 đến 10, có độ cận từ 0.50 và 4.00 diopter (D), và độ loạn không hơn 1.25D, các cá thể được chọn lựa tự nhiên và cho dùng kính chỉnh hình giác mạc hoặc đeo kính cận trong thời hạn 2 năm. Trục nhãn cầu được đo lần đầu và mỗi 6 tháng bởi cơ quan giám định khách quan. Khảo cứu này được đăng ký tại ClinicalTrials.gov, dưới số hiệu NCT00962208.

Kết Quả: Tất cả 78 cá thể (37 dùng chỉnh hình giác mạc, và 41 cá thể bảo vệ (dùng kính cận đơn tròng thông thường)) đã hoàn tất khảo cứu. Trục nhãn cầu bình quân sau 2 năm ở nhóm dùng chỉnh hình giác mạc là 0.36 ± 0.24 và 0.63 ± 0.26mm ở nhóm bảo vệ. Cho thấy nhóm dùng chỉnh hình giác mạc có độ tăng cận rất thấp (P< 0.01). Chiều dày trục nhãn cầu không tương ứng với độ cận nguyên thủy (P > 0.54) nhưng tương ứng với số tuổi nguyên thủy của các cá thể (P < 0.001). Tỷ lệ tăng cận vượt cao ở  nhóm bảo vệ (> 1.00 D một năm) là 65% với cá thể trẻ (lứa tuổi 7- 8 tuổi ) và 13% ở nhóm lớn hơn (lứa tuổi 9- 10 tuổi). Trong khi chỉ là 20% (cá thể trẻ) và 9% (cá thể lớn hơn) ở nhóm dùng kính chỉnh hình giác mạc. Năm cá thể đã không theo đuổi thí nghiệm chỉnh hình giác mạc vì không thích hợp.

 

Kết Luận: Bình quân, nhóm dùng kính chỉnh hình giác mạc giảm tăng dài trục nhẵn cầu đến 43% so với nhóm dùng kính cận đơn tròng thông thường. Bệnh nhân trẻ tuổi tăng chiều dài trục nhãn cầu nhanh hơn trẻ lớn tuổi, nên phương pháp chỉnh hình giác mạc sẽ rất hữu ích nếu điều trị sớm cho trẻ nhỏ. (ClinicalTrials.gov number NCT00962208.)

 

Đề Tài Nghiên Cứu

Ảnh Hưởng Dài Hạn Trên Chiều Dài Trục Nhãn Cầu Trẻ Em Cận Thị khi Dùng Chỉnh Hình Giác Mạc Qua Đêm: Thí Nghiệm Lâm Sàng Theo Dõi Trong 5 Năm 05/2012. Khảo cứu của các bác sỹ:

1.      Takahiro Hiraoka1,

2.      Tetsuhiko Kakita2,

3.      Fumiki Okamoto1,

4.      Hideto Takahashi3 and

5.      Tetsuro Oshika1

+ Các cộng sự viên

1.      Đến từ:

2.      Phân Khoa Nhãn, bệnh viện đại học y khoa Tsukuba, Ibaraki, Nhật Bản;

3.      Bệnh viện mắt Kakita Eye Clinic, Chiba, Nhật Bản; và

4.      Epidemiology and Biostatistics, Đại học y khoa, University of Tsukuba, Ibaraki, Nhật Bản.

1.      Soạn giả: Takahiro Hiraoka, Phân Khoa Nhãn, bệnh viện mắt, đại học Tsukuba, 1-1-1, Tennoudai, Tsukuba, Ibaraki, 305-8575 Japan; thiraoka@md.tsukuba.ac.jp.

Mục Đích: Nghiên cứu lâm sàng so sánh sự biến đổi chiều  dài trục nhãn cầu dài hạn giữa nhóm trẻ em dùng chỉnh hình giác mạc qua đêm và nhóm trẻ em dùng kính cận thông thường.

 

Phương pháp: 59 cá thể đăng ký cho khảo cứu. 29 cá thể cho dùng Chỉnh Hình Giác Mạc, 30 cá thể cho đeo kính cận thông thường. Trục nhãn cầu được đo bằng máy IOLMMaster định kỳ trong 5 năm, khảo cứu, so sánh và  đánh giá định kỳ giữa hai nhóm.

Kết Quả: Tổng số 43 cá thể (22 dùng chỉnh hình giác mạc (nhóm OK), 21 dùng kính cận thông thường (nhóm bảo vệ)) đã hoàn tất chương trình khảo nghiệm trong 5 năm. Tại điểm khởi đầu, tuổi trung bình nhóm OK là 10.04 ± 1.43 và nhóm bảo vệ là 9.95 ± 1.59 tuổi, độ khúc xạ bình quân nhóm OK là -1.89 ± 0.82D và nhóm bảo vệ là -1.83 ± 1.06D, bình quân chiều dài trục nhãn cầu nhóm OK là 24.09 ± 0.77 và nhóm bảo vệ là 24.22 ± 0.71mm, không khác biệt nhiều giữa hai nhóm tại điểm khởi đầu.

Sau 5 năm, sự tăng trưởng trục nhãn cầu giữa hai nhóm khác biệt khá lớn, 0.99 ± 0.47 cho nhóm OK và 1.41 ± 0.68mm cho nhóm bảo vệ, sự khác biệt với số thống kê cao (P = 0.0236, unpaired t-test). Sai số thống kê giữa hai nhóm hàng năm là: Năm thứ nhất (P= 0.0002), năm thứ nhì (P = 0.0476), năm thứ ba (P = 0.0385), năm thứ tư (P = 0.0938) và năm thứ năm là ( P = 0.8633).

Kết luận: Quá trình thí nghiệm lâm sàng trong 5 năm cho thấy phương pháp Chỉnh Hình Giác Mạc giúp giảm tăng chiều dài trục nhãn cầu nơi trẻ em bị cận thị.